Wednesday, May 21, 2014

Gương Hiếu thảo và thanh liêm của ông Nguyễn Dục

Theo sách “Quốc Sử quan triều Nguyễn” thì Nguyễn Dục là người Quảng Nam. Ông sinh năm Đinh Mão - 1807 và mất năm Đinh Sửu - 1877, thọ 71 tuổi. Từ nhỏ, Nguyễn Dục đã nổi tiếng là người thông minh và hiếu thảo. Năm Minh Mạng thứ mười chín (tức năm 1838), ông dự thi Hội và đỗ phó bảng, được triều đình cho bổ dụng làm quan, nhưng ông xin được ở nhà để phụng dưỡng mẹ già cho đến khi mẹ mất mới thôi. Đến năm Thiệu Trị thứ ba - 1843, khi mẹ ông mất, Nguyễn Dục mới bắt đầu ra làm quan, với những chức vụ Đồng tri phủ, rồi Quốc sử quán Biên tu, Nội các Hành tẩu... Trong sách “Đại Nam chính biên liệt truyện” có đoạn chép về Nguyễn Dục như sau:
Năm Thiệu Trị thứ bảy, ông vì bị bệnh nên phải cáo quan về nghỉ ở quê nhà đến hơn mười năm. Khi ấy, ông lấy sách vở làm vui và mở trường dạy học. Học trò của ông rất nhiều người đỗ đạt.


Năm Tân Dậu - 1861, ông ra nhận chức Giáo thụ ở Điện Bàn, sau chuyển làm Đốc học tỉnh Quảng Ngãi. Năm Giáp Tý - 1864, ông được chuyển làm Viên ngoại, lãnh chức Lang trung bộ Lại. Bấy giờ, học trò trường Quốc Tử Giám rất ít, nhà vua nhân đó hỏi quan Tham tri bộ Lại là Phạm Phú Thứ rằng:
- Ở Quảng Nam có ai phẩm hạnh đoan chính không?
Phạm Phú Thứ thưa: Bẩm có Nguyễn Dục.
Nghe vậy, nhà vua liền thăng ông làm Tế tửu. Đây là một sự đặc cách lựa chọn người vào vị trí này - Hiệu trưởng trường Quốc Tử Giám. Song, chẳng bao lâu sau ông lại xin từ chức vì có bệnh. Vua xuống dụ an ủi để lưu lại và cử ông làm Phó chủ khảo trường thi Hương - Bình Định. Năm Tự Đức thứ hai mươi mốt, tức năm Mậu Thìn - 1868, ông được chuyển làm Thị độc Học sĩ và Đốc học Quảng Nam. Năm Tự Đức thứ hai mươi lăm, tức năm Nhâm Thân - 1872, ông được thăng làm Thị lang bộ Lễ, sung chức Giáo đạo ở nhà Dục Đức. Nguyễn Dục ăn mặc chỉnh tề nên các hoàng tử rất kính sợ. Năm Tự Đức thứ hai mươi bảy, tức năm Giáp Tuất - 1874, tháng 2 có lễ tế Nam Giao, quan Hữu quân là Lê Sĩ tặng hoàng tử cái quạt lông. Thấy vậy, Nguyễn Dục hặc trách là không đúng lễ. Vua rất khen chuyện này, bèn thưởng sa và lụa cho ông. Năm Tự Đức thứ hai mươi chín, tức năm Bính Tý - 1876, Nguyễn Dục đã đến tuổi bảy mươi (tính theo tuổi ta) lại bệnh nên xin về nghỉ. Vua chỉ cho nghỉ ba tháng, tặng 50 lạng bạc và sắc cho địa phương phải luôn tới thăm hỏi, đồng thời lệnh cho ông rằng chừng nào mãn hạn phải phúc tâu lên vua. Năm Tự Đức thứ ba mươi, tức năm Đinh Sửu - 1877, do bệnh tình không thuyên giảm, Nguyễn Dục dâng sớ xin nghỉ hẳn tại làng. Đọc sớ của Nguyễn Dục, nhà vua dụ rằng:
- “Nguyễn Dục là người đức hạnh thuần khiết và lão luyện, xử việc thận trọng, lại xem xét mọi việc nghiêm chỉnh nên hoàng tử biết kính sợ, so với Đoàn Khắc Thượng có phần khá hơn. Trước đây, Nguyễn Dục vẫn cáo bệnh xin về, trẫm cũng thương là bậc già yếu nên cũng gượng theo lời xin mà cho nghỉ, tưởng sẽ còn có lúc trở lại nhận chức nên mới chỉ đặc cách ban tặng vàng mà chưa gia ơn tặng chức. Năm nay, Nguyễn Dục đã hơn bảy mươi, vậy cho được thăng Thự lễ bộ Hữu tham tri, cho được nhận một nửa bổng lộc (của chức mới này) mà về làng nghỉ. Hễ thấy bệnh thuyên giảm thì mau vào cung nhận chức, để đáp ơn tri ngộ trước sau, lại cũng để thỏa ý tôn trọng người làm thầy và sự chú tâm đến người ngay của trẫm”.
Nguyễn Dục dâng sớ tâu:
- Ghi nhận đức độ để định ngôi thứ cao thấp, xét công lao mà ban cho bổng lộc hậu... việc này triều đình đã có quy định phép tắc rõ ràng. Nhưng, bề tôi phải có đức lớn, công to như quan Đông các Đại học sĩ Vũ Xuân Cẩn mới xứng đáng được đặc biệt gia ơn, chứ kẻ hèn đức mọn như hạ thần, chẳng có công trạng gì, vì bệnh mà xin về nghỉ, thì dám đâu lại nhận chức đến hàng phó khanh và một nửa bổng lộc như thế.
Nghe vậy, nhà vua không bằng lòng bảo rằng: Như thế không phải là lạm đâu.
Mùa Đông năm 1877, ông mất ở quê nhà, thọ 71 tuổi.

Lời bàn:
Sách “Đại Nam chính biên liệt truyện” có đoạn ca ngợi về ông như sau: Nguyễn Dục là người trung hậu, giản dị, văn chương lại thuần nhã. Về Hội khoa, ông đứng đầu hàng huyện, làm quan thời thanh liêm, thân sĩ ở Nam Châu thường suy tôn ông là người có học hạnh. Và danh thần cùng thời là Nguyễn Thuật cũng đã viết về ông như sau: Thói đời khác xa, người làm quan đau đáu lợi danh, nhưng Nguyễn Dục thì lặng lẽ sống đời cao khiết thanh bạch, vượt khỏi hạng tầm thường, không màng vàng bạc, uống nước lã khác cách thế gian, mười lăm năm làm quan thẳng thắn, không lo toan của tiền. Cho nên, một mai ra đi không lưu luyến thứ gì. Sự tiến thoái của ông khớp với nghĩa, ấy là đạo dạy người.
Vâng, sống mà để người đương thời phải viết vào sử sách như thế quả là đáng khâm phục, đáng tôn vinh. Thế mới hay rằng, sống ở đời mà biết thế nào là phải, là vừa, là đẹp... cũng đủ để lưu danh muôn đời. Tiếc rằng, việc đơn giản ấy không phải ai cũng làm được như ông Nguyễn Dục. Và nói chuyện người xưa mà buồn về ngày nay. Bởi hậu thế hầu như ai cũng muốn được như vậy, song chẳng mấy ai làm được như điều mình muốn. Đã vậy, lại có không ít kẻ khi có một lại muốn có hai và khi đã có ba, có bốn lại đòi có mười... nhưng là cái không phải do chính mình làm ra, thật đáng buồn thay.





No comments:

Post a Comment